Thực tiễn gần đây xuất hiện tình trạng một số tổ chức hành nghề luật sư (TCHNLS) ký văn bản mang tên “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” với luật sư, rồi từ tên gọi đó suy ra rằng quan hệ giữa hai bên không phải là quan hệ lao động và không làm phát sinh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc. Cách lập luận này cần được kiểm tra đồng thời dưới nhiều lớp quy phạm: pháp luật luật sư, pháp luật lao động, pháp luật BHXH, pháp luật dân sự, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thuế và pháp luật hình sự. Điểm then chốt không nằm ở tên hợp đồng, mà nằm ở bản chất pháp lý của quan hệ: luật sư có làm việc có trả công, chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của tổ chức hay không; và quan hệ ấy có rơi vào một hình thức hành nghề được pháp luật luật sư thừa nhận hay không. Sau Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP và theo định hướng của Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026, điều kiện 2 năm hành nghề liên tục để thành lập TCHNLS không còn. Tuy nhiên, việc cắt giảm điều kiện đó không làm phát sinh một hình thức hành nghề độc lập mang tên “cộng tác”.
Trong thực tiễn hành nghề, không hiếm trường hợp TCHNLS và một luật sư ký với nhau văn bản mang tên “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” hoặc một tên gọi dân sự tương tự. Cách đặt tên ấy thường được biện minh bằng hai lý do: một là bảo đảm “tính linh hoạt” trong quản trị nhân sự; hai là vì “pháp luật không cấm”. Từ đó, một số chủ thể đi xa hơn, cho rằng chỉ cần hợp đồng không mang tên “hợp đồng lao động” (HĐLĐ) thì TCHNLS không phải đóng BHXH bắt buộc cho luật sư.
Lập luận đó có vẻ đơn giản, nhưng lại bỏ qua trật tự điều chỉnh của pháp luật. Pháp luật dân sự có thể thừa nhận quyền tự do thỏa thuận; pháp luật doanh nghiệp có thể thừa nhận quyền tự chủ trong tổ chức, quản trị và thuê mướn nhân sự; nhưng nghề luật sư là nghề có điều kiện, chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành, đồng thời chịu sự kiểm soát của pháp luật lao động và pháp luật BHXH khi quan hệ thực tế mang bản chất lao động. Vì vậy, câu hỏi pháp lý chính xác không phải là “các bên đặt tên hợp đồng là gì”, mà là: pháp luật có thừa nhận một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với TCHNLS” hay không; và nếu quan hệ thực tế có đủ dấu hiệu của quan hệ lao động thì tên gọi “cộng tác” có đủ sức loại trừ nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc hay không.
Bài viết này tiếp cận vấn đề theo hướng bình luận khoa học pháp lý: không đọc từng điều luật một cách biệt lập, mà đặt các quy phạm liên quan trong cùng một hệ thống. Luật Luật sư trả lời câu hỏi luật sư được hành nghề theo những hình thức nào; Bộ luật Lao động năm 2019 trả lời khi nào một quan hệ được coi là HĐLĐ bất chấp tên gọi; Luật BHXH năm 2024 nối bản chất quan hệ lao động với nghĩa vụ BHXH bắt buộc; Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định ranh giới của quyền tự do thỏa thuận; Luật Doanh nghiệp năm 2020 xác định giới hạn của quyền tự chủ kinh doanh; còn pháp luật thuế và pháp luật hình sự đặt ra hệ quả tiếp theo nếu việc đặt tên hợp đồng được dùng như một kỹ thuật che giấu bản chất quan hệ.
Điểm cần cập nhật so với cách tiếp cận trước đây là: Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP của Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính và quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có lĩnh vực luật sư thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Sự bãi bỏ điều kiện 2 năm hành nghề liên tục đối với luật sư khi thành lập tổ chức hành nghề đã làm thay đổi nền tảng biện luận; do đó, tiêu chí này không còn được tác giả sử dụng làm “phép thử” định hướng trong cấu trúc của bài bình luận này. Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 cũng đi theo hướng mở rộng, sắp xếp lại các hình thức, trạng thái hành nghề. Tuy nhiên, sự cắt giảm và mở rộng đó không đồng nghĩa với việc pháp luật thừa nhận “cộng tác” là một hình thức hành nghề mới.
2. Cập nhật bối cảnh pháp lý: Nghị quyết đã có hiệu lực và dự thảo chưa phải quy phạm
Trước hết phải tách bạch hai tầng pháp lý. Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP là văn bản đã được ban hành, có hiệu lực trong khoảng thời gian xác định, dùng để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Với nhóm thủ tục thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, phụ lục kèm theo Nghị quyết đã điều chỉnh nhiều nội dung trong lĩnh vực luật sư, bao gồm hồ sơ, trình tự, thời hạn thực hiện một số thủ tục về TCHNLS, chi nhánh và đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân.
Trong phạm vi bài viết này, tác động của Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP được xác định là điểm mốc then chốt để định hình trục lập luận. Khi điều kiện “ít nhất 2 năm hành nghề liên tục” đã chính thức được dỡ bỏ theo chủ trương nới lỏng rào cản pháp lý, việc không lấy tiêu chí này làm trọng tâm bác bỏ mô hình “cộng tác” là một sự lựa chọn phương pháp luận cần thiết để đảm bảo tính thời sự. Thay vì dựa trên những chỉ dấu bổ trợ đã thay đổi, bài viết tập trung xuyên thấu vào bản chất của các quy phạm chuyên ngành hiện hành, từ đó xác lập một tiền đề vững chắc và tránh được những rủi ro phản biện về mặt cập nhật chính sách.
Ngược lại, Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 chưa phải văn bản quy phạm pháp luật. Nó không thể được viện dẫn như căn cứ trực tiếp để xác lập quyền, nghĩa vụ hiện hành của TCHNLS hoặc của luật sư. Giá trị của dự thảo, trong bài bình luận này, nằm ở chỗ cho thấy “định hướng” lập pháp là: Nhà làm luật có thể mở rộng, tái cấu trúc các hình thức, trạng thái hành nghề; có thể bổ sung nhóm luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước hoặc pháp chế doanh nghiệp nhà nước; có thể điều chỉnh cơ chế Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư, gia hạn hoặc cấp lại. Nhưng dù theo định hướng dự thảo, cấu trúc điều chỉnh vẫn là cấu trúc do luật định, không phải cấu trúc do các bên tự đặt tên hợp đồng để tạo ra.
Vì vậy, bài viết này sử dụng Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP như căn cứ cập nhật có hiệu lực để loại bỏ lập luận về điều kiện 2 năm; đồng thời sử dụng Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 như tài liệu đối chiếu xu hướng, không dùng như căn cứ quy phạm trực tiếp.
3. Luật Luật sư thiết kế cấu trúc hành nghề khép kín, không dành chỗ cho một hình thức mang tên “cộng tác”
Theo Luật Luật sư hiện hành, luật sư được hành nghề trong TCHNLS hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo điều kiện luật định. Trong hình thức hành nghề trong TCHNLS, luật sư hoặc là người thành lập, tham gia thành lập tổ chức, hoặc làm việc theo HĐLĐ cho tổ chức. Trong hình thức hành nghề với tư cách cá nhân, luật sư cũng không ở trong trạng thái “tự do tuyệt đối”, mà phải đăng ký hành nghề và phải gắn với cơ chế quản lý nhất định theo Luật Luật sư.
Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 cho thấy định hướng làm rõ luật sư chỉ được lựa chọn trong các hình thức hành nghề do luật quy định, bao gồm việc thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS, làm việc theo HĐLĐ cho TCHNLS, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Dự thảo cũng có xu hướng bổ sung nhóm quy định về luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước, pháp chế doanh nghiệp nhà nước. Dù cách đếm số lượng hình thức thay đổi so với Luật hiện hành, bản chất pháp lý không thay đổi: hình thức hành nghề của luật sư là vấn đề do luật định, không phải do nhãn gọi hợp đồng dân sự tự tạo ra.
Trước những biến chuyển trong định hướng sửa đổi Luật Luật sư năm 2026, việc nhận diện các hình thức hành nghề cần được đặt trong một cấu trúc pháp lý khép kín và có tính bao quát cao hơn. Ở góc độ này, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc liệt kê số lượng các hình thức do luật định, mà là sự khẳng định rằng trong hệ thống pháp luật chuyên ngành hoàn toàn không tồn tại một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư”.
Nói cách khác, nếu một luật sư làm việc thường xuyên trong TCHNLS, chịu sự phân công, quản lý, điều hành, giám sát của TCHNLS, sử dụng thương hiệu, khách hàng, cơ sở vật chất, quy trình nghiệp vụ của TCHNLS và nhận thù lao, tiền công hoặc khoản chi trả định kỳ từ TCHNLS, thì không thể chỉ bằng tên gọi “cộng tác” mà đặt luật sư ấy ra ngoài cấu trúc hành nghề do pháp luật luật sư thiết kế. Hoặc quan hệ đó phải được nhìn nhận đúng là quan hệ lao động; hoặc nếu nó chỉ là quan hệ dân sự thuần túy, nó không thể tự nâng cấp thành một hình thức hành nghề luật sư hợp pháp trong TCHNLS.
4. Có thể có hợp đồng dân sự mang tên “cộng tác”, nhưng không thể từ đó suy ra một hình thức hành nghề luật sư mới
Cần công bằng ở điểm này: Luật Luật sư không viết một điều khoản theo kiểu “TCHNLS bị cấm ký hợp đồng cộng tác với cá nhân”. Một TCHNLS vẫn có thể ký các hợp đồng dân sự, thương mại, dịch vụ, hợp tác hoặc cộng tác viên với cá nhân, tổ chức khác để thực hiện các công việc phụ trợ nhất định, miễn nội dung, mục đích và cách thực hiện không trái luật, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp và không làm phát sinh một trạng thái hành nghề giả tạo.
Nhưng từ khả năng tồn tại của một hợp đồng dân sự không thể suy ra khả năng tồn tại của một hình thức hành nghề luật sư mới. Đây là điểm mà thực tiễn thường nhầm lẫn. Một hợp đồng dân sự có thể hợp lệ ở tầng giao dịch dân sự, nhưng vẫn không đủ để xác lập địa vị “luật sư làm việc trong TCHNLS” nếu quan hệ ấy không rơi vào hình thức hành nghề do Luật Luật sư thừa nhận. Tương tự, một người có Thẻ luật sư không làm cho mọi hợp đồng người đó ký với TCHNLS đương nhiên trở thành hợp đồng hành nghề hợp pháp.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng. Nếu cá nhân không hành nghề luật sư trong quan hệ đó, mà chỉ cung cấp một dịch vụ phụ trợ độc lập, thí dụ dịch thuật, nghiên cứu thị trường, thiết kế truyền thông, hỗ trợ công nghệ, thì hợp đồng dân sự có thể được đánh giá theo pháp luật dân sự, thương mại, thuế. Nhưng nếu cá nhân đó là luật sư và thực tế được đưa vào bộ máy chuyên môn của TCHNLS để xử lý vụ việc pháp lý, gặp khách hàng, soạn thảo hồ sơ, tham gia tư vấn, tranh tụng, chịu sự điều hành của TCHNLS, thì việc gọi hợp đồng là “cộng tác” không thể làm thay đổi bản chất của quan hệ.
Vì vậy, câu trả lời không nên cực đoan theo hướng “mọi hợp đồng cộng tác đều vô hiệu” hoặc “TCHNLS tuyệt đối không được ký hợp đồng có tên cộng tác”. Câu trả lời đúng hơn là: hợp đồng dân sự có thể tồn tại, nhưng nó không thể được dùng để thay thế HĐLĐ khi quan hệ có bản chất lao động, và càng không thể được dùng để tạo ra một hình thức hành nghề luật sư độc lập nằm ngoài Luật Luật sư.
5. Bộ luật Dân sự bảo vệ tự do thỏa thuận, nhưng không bảo vệ sự ngụy trang bản chất quan hệ
Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; đồng thời quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và trường hợp giao dịch vô hiệu khi mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Như vậy, quyền tự do hợp đồng là nguyên tắc nền tảng, nhưng không phải quyền năng vô hạn để các chủ thể tự vô hiệu hóa những quy phạm bắt buộc của luật chuyên ngành, luật lao động và luật BHXH.
Trong lĩnh vực đang bàn, pháp luật dân sự không cấm các bên lựa chọn tên gọi “hợp đồng cộng tác”. Nhưng pháp luật dân sự cũng không trao cho các bên quyền dùng tên gọi đó để thay đổi bản chất pháp lý của quan hệ. Nếu một quan hệ thực tế là quan hệ lao động, thì không thể dùng nhãn dân sự để làm mất nghĩa vụ HĐLĐ, nghĩa vụ tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các nghĩa vụ khác theo luật.
Điểm đáng lưu ý là trong quan hệ giữa TCHNLS và luật sư, việc ngụy trang bằng hợp đồng dân sự còn nguy hiểm hơn quan hệ lao động thông thường. Bởi luật sư không chỉ là người lao động có chuyên môn; luật sư còn là chủ thể hành nghề có điều kiện, chịu quản lý của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Một mô hình hợp đồng cố tình đặt luật sư vào vùng xám: không phải người lao động để khỏi đóng BHXH, nhưng vẫn được sử dụng như luật sư của TCHNLS để khai thác dịch vụ pháp lý, là mô hình có rủi ro pháp lý kép.
6. Bộ luật Lao động và Luật BHXH nhìn vào bản chất, không nhìn vào nhãn dán của hợp đồng
Điểm xuyên thấu quan trọng nhất nằm ở Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. Điều luật này xác định HĐLĐ là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt, trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là HĐLĐ.
Quy phạm này phá vỡ trực tiếp kỹ thuật “đổi tên hợp đồng”. Tên gọi “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” chỉ là lớp vỏ. Cơ quan có thẩm quyền sẽ phải nhìn vào ba yếu tố cốt lõi: có việc làm; có trả công, tiền lương hoặc thù lao mang bản chất tiền công; và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên đối với bên còn lại.
Áp dụng vào quan hệ giữa TCHNLS và luật sư, nếu luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức; chịu phân công hồ sơ; phải báo cáo tiến độ; chịu đánh giá kết quả; làm việc tại trụ sở hoặc theo lịch do tổ chức bố trí; nhận khoản chi trả định kỳ hoặc chi trả theo vụ việc nhưng phụ thuộc vào sự giao việc, nghiệm thu của tổ chức; chịu nội quy, quy chế, kỷ luật nội bộ; sử dụng thương hiệu, cơ sở vật chất, khách hàng và bộ máy hỗ trợ của tổ chức, thì tên gọi “cộng tác” không còn có ý nghĩa quyết định. Quan hệ ấy có cơ sở bị xác định lại là HĐLĐ.
